CHUYÊN ĐỀ BẢO VỆ CƠ THỂ CHỐNG BÊNH TẬT

       NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

Kể được các nguyên nhân bên trong và bên ngoài chủ yếu của bệnh tật và nêu ví dụ cho mỗi trường hợp.

Mô tả được các tuyến phòng thủ thứ nhất bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật và tóm tắt các phương pháp bảo vệ đó dưới dạng sơ đồ.

Mô tả cấu trúc của hệ thống bạch huyết, vẽ và chú thích sơ đồ của một hạch bạch huyết.

Kể tên các tác bào của hệ thống miễn dịch và giải thích sự khác nhau trong quá trình phát triển của tế bào lympho T và tế bào lympho B.

Mô tả các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể bao gồm vai trò của phản ứng viêm, thực bào, sốt và sản sinh interferon.

Mô tả cấu trúc của các phân tử kháng thể và định nghĩa kháng nguyên.

Giải thích vai trò của tế bào lympho T và tế bào lympho B trong phản ứng miễn dịch đặc hiệu.

Giải thích quá trình miễn dịch được tạo ra bởi vacxin như thế nào và phân biệt giữa miễn dịch chủ động và thụ động.

Mô tả hệ thống nhóm máu ABO và Rhesus.

1. GIỚI THIỆU – CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH

Thông thường cơ thể được duy trì trong tình trạng khoẻ mạnh bởi rất nhiều các quá trình khác nhau, chúng góp phần làm ổn định nội môi. Bệnh xuất hiện khi sự ổn định của nội môi bị rối loạn hay không bình thường. Những rối loạn của nội môi gây ra bằng những cách khác nhau và được thống kê như dưới đây:

2. CÁC NGUYÊN NHÂN MÔI TRƯỜNG CỦA BỆNH TẬT

- Thiếu một chất hoá học hay một điều kiện quan trọng. Các sinh vật sống tự dưỡng nhận năng lượng và các nguyên liệu cơ bản từ môi trường xung quanh nhưng các sinh vật dị dưỡng cần phải nhận những thức ăn có sẵn từ rất nhiều nguồn khác nhau. Bệnh có thể xuất hiện nếu như thiếu bất kỳ một chất cần thiết nào hay chúng được cung cấp không đầy đủ. Các bệnh này được gọi là các bệnh thiếu hụt. Chúng bao gồm các dạng của bệnh suy dinh dưỡng, thiếu hụt protein và các bệnh thiếu vitamin.

- Do có một chất độc hay một tình trạng nhiễm dộc. Tất cả các loài sinh vật đều có thể bị nhiễm độc và xuất hiện tổn thương trong một môi trường không thuận lợi. Ở những nước phát triển, ngưòi dân thường xuyên phải chịu đựng các chất phụ gia trong thức ăn, chì trong xăng, các chất thải công nghiệp và mức độ phóng xạ cao. Hơn nữa còn có những mối nguy hiểm do con người tự gây ra cho mình, ví dụ như hút thuốc lá, nghiện ma tuý và nghiện rượu. Các bệnh nghề nghiệp bao gồm bệnh bụi phổi thường thấy ở những người công nhân mỏ than, mỏ đá, một số thể bệnh máu trắng cùng nhiều căn bệnh không nghiêm trọng khác.

- Do ký sinh trùng. Các sinh vật gây bệnh được gọi là các tác nhân gây bệnh, chúng có thể được chia thành các vi sinh vật bao gồm các vi khuẩn, virut, động vật nguyên sinh, nấm và các loài lớn hơn, ví dụ như loài giun dẹt. Theo dự tính hằng nãm có tới 2 triệu người chết vì sốt rét. Đây chỉ là một trong số rất nhiều bệnh của con người do ký sinh trùng gây ra.

3. CÁC NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG CỦA BỆNH TẬT

- Các dị tật di truyền. Bệnh di truyền thường là kết quả của các đột biến gen, ảnh hưởng đến sự sản xuất enzym hay các protein khác. Ví dụ như bệnh galactoz huyết xuất hiện khi cơ thể không tạo ra enzym galactoz-1-phosphat uridyl transferaz. Enzym này giúp cho con đường chuyển hoá được diễn ra bình thường, biến galactoz thành glucoz sử dụng trong quá trình hô hấp. Khi vắng mặt nó, chất trung gian của lactoz-1-phosphat tập trung lại trong máu, gây tổn thương gan và làm chậm phát triển về trí tuệ. ở Anh, trẻ sơ sinh thường xuyên được kiểm tra bệnh tật bằng cách trích vào gót chân trẻ, nặn ra một giọt máu, sau đó kiểm tra xem có enzym hay không. Loại bỏ hoàn loàn lacloz (từ sữa và các sản phẩm của sữa) galactoz trong thức ăn có thể giúp cho các trẻ em mắc bệnh vẫn phát triển bình thường được.

Những bất thường về gen khác bao gồm bệnh phenylketonuria (PKU) có ảnh hưởng tới chuyển hoá axít amin phenylalanin, bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm và các bệnh có liên kết giới tính khác như bệnh ưa chảy máu Vít bệnh mừ màu. Những bất thường của thể nhiễm sắc cũng gây ra các bệnh như hội chứng Đao (Down), hội chứng Tơcnơ (Turner) và chứng Claiphentơ (Klinefelter) .

- Những đột biến xôma. Đây là những biến đổi trong ADN của các tế bào xoma. Những đột biến này không di truyền và thường xuất hiện do bị nhiễm các chất độc hoặc do sai lầm ngẫu nhiên trong quá trình tái bản ADN trước khi tế bào phân chia. Trong khi cơ thể các cơ chế sửa chữa ADN tổn thương một cách hoàn hảo thì một số đột biến xoma gây ra những biến đổi vĩnh viễn trong phân tử ADN làm cho hoạt động của tế bào mất bình thường. Sự phân chia tế bào không kiểm soát nổi của một số dạng tế bào ung thư dẫn đến sự hình thành khối u là một ví dụ điển hình.

- Các bệnh tự miễn. Các tế bào của hệ thống miễn dịch thường chỉ tấn công các chất lạ nhưng đôi khi chứng bị rối loạn chức năng và tấn công các mô của cơ thể mình gây ra bệnh miễn. Số lượng bệnh tự miễn của con người ngày càng tăng bao gồm các bệnh thiếu máu, bệnh đường, bệnh xơ cứng rải rác, cường chức năng tuyến giáp và một số bệnh về cơ và thận.

- Các bệnh do tuổi tác. Cơ thể có khả năng tự sửa chữa một cách đáng kể, nhưng khi về già nhiều bộ phận của cơ thể bị thoái hoá. Đặc biệt là hệ tuần hoàn dễ có những hư hại lớn. Sơ cứng động mạch là quá trình mà thành động mạch dày lên một cách đáng kể với những tế bào cơ dị thường và những chỗ lắng đọng chất béo. Đó là nguyên nhân đầu tiên của bệnh nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Một bệnh khác xuất hiện do thành mạch yếu, đó là bệnh phình mạch, mạch máu có thể vỡ ra và gây tử vong. Đối với hệ thống tiêu hoá, sự yếu các cơ thường dẫn đến việc hình thành những túi ruột nhỏ gọi là túi thừa, chúng thường bị nhiễm trùng và dẫn đến những rối loạn về tiêu hoá và hấp thu thức ăn. Các bệnh này và nhiều bệnh khác có thể xem như là các bệnh do tuổi tác, chúng không thể nào tránh khỏi được trong cuộc sống hàng ngày. Tiến triển của chúng đôi khi bị chặn lại nhờ tập thể dục và chú y thích đáng đến chế độ ăn nhưng chúng không thể nào khỏi hẳn được.

Cũng cần phải nhấn mạnh là nhiều bệnh không phải do chỉ một nguyên nhân, mà xuất hiện do sự kết hợp của nhiều yếu tố, ví dụ như bệnh tự miễn có thể khởi phát từ một nhiễm khuẩn do virút hay ăn quá nhiều colesterol hoặc do các yếu tố di truyền có thể thúc đẩy sự phát triển của bệnh xơ cứng động mạch. Phần còn lại của bài này sẽ giải thích tất cả các cơ chế bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tạt. Các cơ chế này bao gồm rất nhiều hàng rào chắn ở bên ngoài ngăn không cho vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể và một hệ thống miễn dịch hoàn hảo ở bên trong, nó thanh toán hết các tế bào đã bị "già cỗi" hay bị tổn thương của cơ thể, giúp cơ thể chống lại bệnh ung thư cũng như chống nhiễm tất cả các loại ký sinh trùng khác.

  • Các tuyến bảo vệ thứ nhất

Vi khuẩn và các virút là các ký sinh trùng quan trọng nhất của con người. Chúng được truyền từ  vật chủ này sang vật chủ khác qua các hệ thống tiêu hoá, hô hấp và sinh dục, hoặc đôi khi trực tiếp qua da. Mỗi khu vực này đều có một số cơ chế bảo vệ quan trọng, ngăn chặn hay giảm bớt sự xâm nhập của các vi sinh vật. Các cơ chế này tạo nên các tuyến phòng thủ đầu tiên của cơ thể như đã tóm tắt.

Hệ thống tiêu hoá được bảo vệ chống lại các ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, nước uống bằng enzym lysozym có trong nước bọt. Lysozym tấn công vào các hydrat cacbon polysaccarit của thành tế bào vi khuẩn và giết chết vi khuẩn bằng cách phá vỡ chúng ra. Đồng thời vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh tiềm tàng khác bị mắc kẹt trong đám chất nhầy và bị hoà trộn với thức ăn, sau đó bị nuốt vào trong dạ dày. Chỉ có những tác nhân gây bệnh bền vững nhất mới có thể chịu đựng được các enzym thuỷ phân protein rất mạnh và nồng độ axít cao ở trong dạ dày.

Bệnh tả, bệnh thương hàn và nhiễm độc thức ăn là những ví dụ về các bệnh do vi khuẩn ở trong thức ăn, nước uống gây ra. Bệnh lỵ amíp, gây ra bởi loài động vật đơn bào Entamoeba hystolytica, cũng lây truyền theo đường này. Các sinh vật lớn hơn có ảnh hưởng tới hệ thống tiêu hoá đó là loài sán dây (Taenia solium) sống trong cơ thể người.Đa số các nhiễm trùng đường tiêu hoá đều có thể điều trị được bằng cách dùng thuốc.

Hệ thống hô hấp rất dễ bị tấn công. Nhiều loại vi khuẩn và vi rút có thể chịu đựng được sự khô hanh và đủ nhỏ và nhẹ để có thể bay đi trong không khí. Điển hình là nhiễm trùng được truyền đi qua những giọt bệnh phẩm từ người này sang người khác - ho và hắt hơi sẽ giúp cho bệnh lan rộng. Để chống lại các sinh vật này, khí quản, phế quản và các tiểu phế quản có lớp biểu mô có lông rung và các tế bào hình ly rượu sản sinh ra chất nhầy. Các hạt bụi và vi khuẩn thường bị lớp chất nhầy này giữ lại và nhờ hoạt động của lông rung, chúng bị đẩy ra ngoài với tốc độ 1 - 3 cm trong một giờ. Khi ra đến thành sau hầu, chất nhầy bị nuốt xuống, các sinh vật bị chất nhầy giữ lại sẽ phải chịu tác động của axít và các enzym của dạ dày. Khi nhiễm trùng, số lượng chất nhầy tăng lên và chuyển động đi lên của chất nhầy được tăng cường bởi ho và hắt hơi. Các tác nhân gây bệnh xuyên qua được tuyến phòng thủ này có thể đến được lòng phế nang nhưng ở đây có các tế bào đại thực bào bảo vệ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 1. Tóm tắt các cơ chế bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật

Lao, bạch hầu, viêm phổi và ho gà là những bệnh do vi khuẩn truyền qua những giọt bệnh phẩm, trong khi đó các bệnh do virút thì bao gồm bệnh cúm và cảm lạnh.

Hệ thống sinh dục và tiết niệu của nam và nữ được bảo vệ bởi niêm mạc và dòng nước tiểu chảy thành chu kỳ sẽ cuốn trôi đi tất cả vi khuẩn. Sự phát triển của vi khuẩn bị ức chế bởi pH axít và nồng độ các chất hoà tan trong nước tiểu cao. Ở phụ nữ, thành âm đạo luôn ẩm ướt, nó chứa glycogen và chất này bị phân huỷ thành axít lactic bởi các vi khuẩn vô hại thường tồn tại một cách tự nhiên ở khu vực này Điều đó làm cho pH giảm xuống, có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các dạng vi khuẩn khác, các tác nhân gây bệnh tiềm tàng.

Các bệnh truyền qua đường sinh dục hay các bệnh hoa liễu bao gồm lậu và giang mai cũng do vi khuẩn gây ra, còn bệnh herpes sinh dục thì lại do virut. Dùng các kháng sinh như penixilin là một biện pháp điều trị có hiệu quả bệnh lậu và giang mai mặc dù có thể có những biến chứng nghiêm trọng như vô sinh nếu như bệnh không được điều trị sớm. Hiện nay chưa có biện pháp điều trị bệnh herpes sinh dục.

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải hay AIDS gây ra bởi một loại virut, lần đầu tiên được Luc Montagnier phân lập và mô tả tại viện Pasteur ở Pari vào tháng 3 năm 1983 và hiện nay gọi là virut gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Virut thường tấn công một dạng tế bào T, dạng tế bào rất quan trọng đối với chức năng bình thường của hệ thống miễn dịch và làm cho nạn nhân không có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật. Bệnh AIDS giai đoạn muộn gây cái chết tất yếu. Virut HIV lần đầu tiên được phát hiện trong số những người đàn ông đồng tính luyến ái ở châu Âu và ở Mỹ nhưng hình như chúng bắt nguồn từ châu Phi. Sự giao hợp bằng đường hậu môn giữa những người đàn ông đồng tính luyến ái chỉ là một cách lan truyền virut mà thôi. Ở châu Phi, sự giao hợp khác giới là phương pháp truyền bệnh chủ yếu và rõ ràng rằng vi rút HIV có thể truyền cho phụ nữ qua tinh trùng và cho nam giới qua dịch tiết âm đạo. Sử dụng lại những kim tiêm nhiễm virút vào dưới da và truyền máu nhiễm virut đã làm cho bệnh ngày càng lan rộng hơn trong dân chúng. Người ta dự tính rằng có ít nhất 1 triệu người dân châu Phi sẽ chết vì AIDS trong những năm sắp tới. Ở tất cả các nước cần phải tiến hành các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn sự lan rộng của bệnh AIDS cho đến khi tim ra biện pháp điều trị.

Da là hàng rào chắn có hiệu quả nhất chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật chủ yếu do lớp ngoài vững chắc bao gồm các tế bào chết ép chặt với nhau gọi là lớp sừng của biểu bì. Như đã giải thích trong bài 21, các tế bào này chứa đầy những protein dạng sợi là keratin và dính chặt với nhau tạo thành vảy da, chúng thường xuyên bong ra khỏi bề mặt. Lớp sừng của biểu bì luôn được giữ mềm mại và không thấm nước nhờ lớp chất nhờn giải phóng ra từ các tuyến bã. Đây là hỗn hợp dầu chứa các axit béo không no, nó giúp cho một số loại vi khuẩn có ích phát triển. Vi khuẩn giải phóng các axit như là các sản phẩm trung gian của quá trình chuyển hoá và làm cho da có pH đặc trưng trong khoảng từ 3-5. Mồ hôi có chứa lysozym – một enzym kháng khuẩn cũng thấy ở trong nước bọt. Da nguyên vẹn hoàn toàn không thấm nước nhưng da tổn thương thì rất dễ bị tấn công và cần phải được sửa chữa lại. Điều này thực hiện được là nhờ các cơ chế đông máu và sự liền sẹo vết thương.

Da thường có tác dụng kém hiệu quả hơn trong việc chống lại các sinh vật lớn, ví dụ như muỗi, ve. Chúng dùng vòi của chúng xuyên qua lớp ngoài của da để hút máu. Thông thường các động vật chân đốt hút máu này hoạt động như là các vectơ cho các loài ký sinh khác, như trong trường hợp muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét. Các ký sinh trùng truyền bệnh theo cách này có rất nhiều thuận lợi, bởi vì chúng có thể xâm nhập rất dễ dàng qua các tuyến phòng thủ đầu tiên của cơ thể, xâm nhập trực tiếp vào dòng máu, nơi đó chúng có thể sinh sản rất nhanh trước khi các tuyến phòng thủ thứ hai được huy động hoàn toàn. Các bệnh có liên quan đến vectơ truyền bệnh là những bệnh nguy hiểm nhất của con người và là những bệnh khó kiểm soát nhất.

Những phần tiếp theo sẽ mô tả các cơ chế tạo ra tuyến phòng thủ thứ hai của cơ thể gọi là hệ thống miễn dịch.

4. HỆ THỐNG MIỄN DỊCH

  • Hệ thống bạch huyết

Text Box: Hình 2. Các nét đại thể về hệ bạch huyếtĐặc điểm chung của hộ thống bạch huyết được mô tả trong hình 2.Chức năng chủ yếu của hệ thống này là tạo ra các loại ống dẫn dịch mô dư thừa mà không phải nhờ đến các mạo mạch máu. Sự lưu thông trong hệ thống bạch huyết diễn ra theo một chiều và bắt đầu từ các ông nhỏ kín đầu bao gồm các mạch nhũ chấp ruột non ở ống tiêu hoá và các mao mạch bạch huyết ở các mô khác. Các ống nhỏ này lại kết hợp với nhau để tạo nên các mạch lớn hơn gọi là bạch huyết. Dòng bạch huyết chảy chậm và thường chảy khi các mạch bạch huyết bị dồn ép do các cơ gần đó co. Cũng như ở tĩnh mạch, ở đây cũng có các van ngăn cho bạch huyết không chảy ngược trở lại. Cuối cùng, các mạch bạch huyết ở khắp nơi trong cơ thể kết hợp lại với nhau để tạo nên hai ống lớn là ống bạch huyết phải và ống ngực, chúng lần lượt dẫn bạch huyết đổ vào tĩnh mạch dưới đòn trái và phải.

  • Các hạch bạch huyết

Đây là những cấu trúc hình bầu dục hay hình hạt đậu, xuất hiện cách quãng dọc theo các mạch bạch huyết, thường ở chỗ nối của một số mạch bạch huyết hướng tâm (xem hình 3).

Trong mỗi hạch có một lớp vỏ ngăn cách chứa các nang bạch huyết và một vùng tuỷ ở trung tâm. Ở trung tâm mỗi nang có một vùng nhạt màu hơn gọi là trung tâm mầm, nơi đó các tế bào lympho mới được sản sinh ra. Ở vùng tuỷ, các tế bào lympho tạo nên các dải gọi là thừng tuỷ.

Text Box: Hình 3. Cấu trúc một hạch bạch huyếtBạch huyết chảy vào hạch bạch huyết thấm qua mạng lưới các sợi vào xoang giữa các nang bạch huyết. Các mạng lưới này lọc hết vi khuẩn và các vật lạ khác. Bạch huyết sau đó được tập trung vào một hay nhiều mạch bạch huyết ly tâm.

  • Các tác bào

Các tác bào của hệ thống bạch huyết bao gồm các bạch cầu hạt có nghĩa là bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axít và bạch cầu ưa bazơ và bạch cầu không hạt bao gồm bạch cầu lympho và bạch cầu mono . Tất cả các tế bào này đều có liên quan đến chức năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh nhưng chúng có các vai trò khác nhau. Các bạch cầu hạt và bạch cầu mono có liên quan đến các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu. Điều đó có nghĩa là, chúng đáp ứng lại với các kích thích nói chung ví dụ như với sự giải phóng các chất hoá học từ mô tổn thương hơn là với các dạng tác nhân gây bệnh cụ thể. Mặt khác các tế bào lympho làm trung gian cho các phản ứng miễn dịch đặc hiệu bao gồm cả việc sản sinh ra kháng thể.

Hai dạng tế bào lympho khác nhau này có thể phân biệt được dựa vào sự phát triển của chúng từ các tế bào mầm ở trong gan, lách và tuỷ xương của phổi. Như đã minh hoạ trong hình 4, các tế bào mầm phân chia để tạo ra hai nhóm tế bào lympho, sau đó chúng hoà vào dòng máu. Một nhóm được gọi là các tế bào lympho T hay các tế bào T, chúng đi đến tuyến ức và tăng sinh ở đó trước khi đến các mô lympho khác. Nhóm thứ hai được gọi là các tế bào lympho B hay các tế bào B, chúng đi đến những vị trí tương tự bằng những con đường khác nhau mà cho đến nay chưa giải thích được. Điều quan trọng là ở chỗ có hai quần thể tế bào lympho riêng biệt mà mỗi quần thể lại góp phần khác nhau đối vói phản ứng miễn dịch.

Hình 4. Nguồn gốc các tế bào T và B

5. CÁC PHẢN ỨNG MIỄN DỊCH KHÔNG ĐẶC HIỆU

Text Box: Hình 5. ảnh hiển vi điện tử cho thấy một bạch cầu trung tính đang thực bào vi khuẩnKhi bất kỳ một vi khuẩn nào xuyên qua được các phòng tuyến bảo vệ thứ nhất của cơ thể, nó ngay lập tức gây ra một loạt thay đổi dẫn đến phản ứng viêm ở lối vào. Một trong những thay đổi quan trọng nhất đó là giải phóng histamin từ các tế bào phì (mast cells), và các tế bào khác của mô liên kết. Histamin gây giãn mạch tại chỗ và tăng tính thấm của thành mạch máu làm cho các protein đi vào trong dịch mô. Các mô tổn thương trương lên khi phản ứng viêm phát triển, tác dụng của histamin được tăng cường bởi các chất trung gian hoá học khác bao gồm các kinin và các protein bổ thể hình thành trong huyết tương. Các chất hoá học nay thu hút bạch cầu trung tính bằng một quá trình gọi là hoá ứng động. Bạch cầu trung tính đầu tiên dính vào thành của các mạch máu tổn thương và sau đó xâm nhập vào mô bằng cách lách giữa các tế bào nội mô lót thành mạch máu. Trong các mô, chúng tấn công cả vi khuẩn và các tế bào mô tổn thương, bao bọc chúng trong những không bào của bào tương (xem hình 5). Trong những không bào, vi khuẩn thường bị giết và bị tiêu hóa bởi các enzym của lyzoxom. Vi khuẩn chết, các tế bào của mô và bạch cầu trung tính có thể tập trung lại thành mủ ở chỗ tổn thương.

Tiếp theo thực bào là sự sửa chữa hoàn toàn của mô nhưng có thể có áp xe (abscess) hay hình thành u hạt. Ổ áp xe là một cái túi chứa mủ được bao quanh bởi tổ chức xơ. Đôi khi nó không thể liền được nếu không chủ động dẫn lưu mủ ra ngoài. U hạt có cấu trúc như bình thường, chỉ có điều nó chứa các vi sinh vật còn sống. Ví dụ như các vi khuẩn lao có khả năng sống trong bạch cầu trung tính và có thể tồn tại một cách an toàn trong cơ thể nếu như chúng nằm bên trong u hạt. Các phản ứng như đã mô tả, chỉ xuất hiện bên trong mô tổn thương nhưng còn có các phản ứng không đặc hiệu khác. Thực ra tất cả các nhiễm trùng đều làm tăng thân nhiệt và gây ra sốt. Phản ứng này gây ra bởi yếu tố gây sốt, một chất protein giải phóng ra từ bạch cầu trung tính trong quá trình viêm. Yếu tố này tác động lên vùng dưới đồi não, điều chỉnh tạm thời "bộ điều nhiệt" của cơ thể, đồng thời cũng kích thích gan tăng hấp thu sắt từ huyết tương và nhờ đó làm chậm sự sinh sản của vi khuẩn vì đa số vi khuẩn cần sắt cho sự phân chia tế bào. Các nhiễm khuẩn virut làm cho một số dạng tế bào khác nhau sản sinh ra interferon. Chất này được giải phóng vào vòng tuần hoàn và sau đó tác động lên các tế bào khác làm cho chúng có miễn dịch với sự tấn công của vi khuẩn. Interferon kích thích tế bào sản sinh ra các protein chống vi rut. Các protein này can thiệp vào sự phiên mã ADN và ARN của virut. Interferon hiện nay đang là một đối tượng nghiên cứu, bởi vì việc sử dụng nó như một loại thuốc đã tạo ra những khả năng to lớn trong điều trị các bệnh do virut và một số dạng ung thư.

6.  CÁC PHẢN ỨNG MIỄN DỊCH ĐẶC HIỆU

Các phản ứng miễn dịch đặc hiệu phụ thuộc vào sự sản sinh ra các kháng thể bởi các tế bào lympho. Mỗi kháng thể là một protein hình chữ Y có cấu trúc như minh hoạ trong hình 6. Phân tử kháng thể bao gồm 4 chuỗi polypeptit, trong đó có hai chuỗi nặng và hai chuỗi nhẹ liên kết với nhau bởi các cầu nối disulphit.

 

Hình 6. Cấu trúc một phân tử kháng thể

Một phần cấu trúc của các chuỗi là cố định, nhưng các phần gần đầu mút của hai nhánh chữ Y lại biến đổi và tạo nên các vị trí kết hợp có khả năng phản ứng với các chất hoá học khác mà gọi là các kháng nguyên. Điều này xảy ra theo cách tương tự như khi một enzym kết hợp với một cơ chất của nó.

Nhìn chung, kháng nguyên là những chất "lạ" có bản chất protein hay hyđrat cacbon polysaccarit có trên bề mặt của các vi khuẩn xâm lấn. Kháng nguyên kích thích sự sản sinh ra kháng thể của nó và sau đó sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể đặc hiệu, cuối cùng sẽ dẫn đến sự phá huỷ vi khuẩn. Có một điều khá ngạc nhiên là một loại tế bào lympho chỉ có thể sản xuất ra một loại kháng thể. Do đó để bảo vệ cơ thể chống lại tất cả các dạng bệnh, cần phải có hàng nghìn dạng tế bào lympho khác nhau, mỗi dạng tế bào có thể nhận ra và phản ứng lại với một loại kháng nguyên riêng biệt. Vậy thì tất cả các dạng tế bào khác nhau này được hình thành như thế nào thì hiện nay vẫn còn là một điều bí ẩn.

Khi một tế bào lympho T bị kích thích bởi kháng nguyên tương ứng, nó phình to ra và sau đó phân chia rất nhanh để tạo ra một loạt các tế bào giống nhau về mặt di truyền gọi là một clon. Các tế bào trong clon sản sinh ra kháng thể nhưng kháng thể vẫn còn dính trên bề mặt tế bào, không được giải phóng ra. Thay vào đó các tế bào T lúc bấy giờ được gọi là các "tế bào T giết" di chuyển đến khu vực tổn thương, ở đó chúng tấn công trực tiếp các vi khuẩn, giải phóng ra các chất hoá học giết chết các tác nhân gây bệnh. Các chất hoá học tương tự cũng thu hút thêm các tế bào lympho và các đại thực bào (xem hình 7).

Khi các tế bào B bị kích thích, chúng cũng phình to ra và sinh sản để tạo ra các clon theo cách tương tự như các tế bào T, nhưng các tế bào của clon lại biệt hoá tiếp theo để tạo thành các tương bào, chúng ở lại trong mô lympho. Chúng có mạng lưới nội chất hạt rất phát triển (xem hình 19.8) và biệt hoá để sản sinh ra kháng thể với tốc độ khoảng 2000 phân tử trong một giây đối với mỗi tế bào. Tốc độ sản xuất này được duy trì trong vài ngày, sau đó tương bào chết đi. Các kháng thể đi vào dòng máu và có rất nhiều tác dụng khác nhau từ phá huỷ hay làm tan vi khuẩn tới cố định opsonin, trong đó các kháng thể gắn với bề mặt của một vi khuẩn, làm cho nó mẫn cảm hơn với đại thực bào. Các tế bào nhớ của mỗi clon vẫn nằm trong mô lympho, do đó lẩn xuất hiện thứ hai của kháng nguyên cùng một loại, sẽ tạo ra một phản ứng nhanh và mạnh hơn rất nhiều. Đôi khi phản ứng đối với sự xuất hiện lại của kháng nguyên rất nguy hiểm, bởi vì nó tạo ra một phản ứng dị ứng, như trong trường hợp dị ứng thời tiết.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 7. Sự kích thích các tế bào T và B

Sự có mặt của các kháng thể tuần hoàn trong máu và của các "tế bào nhớ" trong các mạch lympho tạo ra một sự bảo vệ kéo dài hay là sự miễn dịch chống lại bệnh tật. Miễn dịch như vậy hiện nay thường được tạo ra nhờ tiêm vacxin (vaccine), trong đó các vi khuẩn chết hay giảm độc lực hoặc các kháng nguyên tinh khiết phân tách ra từ chúng, được tiêm vào trong cơ thể. Chúng kích thích các tế bào lympho tương ứng tương tự như các tác nhân gây bệnh còn sống. Người được tiêm vacxin bình thường không thể nào mắc được căn bệnh đó, và một điều nữa cũng rất quan trọng đó là họ không thể truyền bệnh đó cho người khác. Do đó các chiến dịch tiêm chủng hàng loạt có thể loại trừ hoàn toàn một căn bệnh. Bệnh ho gà hiện nay đã được loại trừ hoàn toàn bằng cách dùng vacxin và thế giới đang cố gắng loại trừ bệnh viêm não. Rất nhiều căn bệnh nguy hiểm ví dụ như lao và bạch cầu đang được chế ngự một cách có hiệu quả trong dân chúng.

Text Box: Hình 8. ảnh hiển vi điện tử cấu trúc một tương bàoDùng vacxin sẽ tạo ra một phản ứng gọi là miễn dịch chủ động, có nghĩa là cơ thể sản sinh ra kháng thể của chính bản thân mình chống lại một kháng nguyên nào đó. Một dạng khác của miễn dịch gọi là miễn dịch thụ động, trong đó các kháng thể có sẵn đi vào dòng máu được lấy từ một cá thể khác. Điều này thường xảy ra một cách tự nhiên qua nhau thai từ người mẹ đến người con và là một phương tiện bảo vệ quan trọng cho đứa trẻ trong những tháng đầu của cuộc sống. Miễn dịch thụ động cũng được tạo ra một cách chủ động bằng cách tiêm những kháng thể đặc hiệu chứa trong huyết thanh được lấy từ máu người, ngựa hoặc bò. Các kháng thể dưới dạng huyết thanh được dùng để điều trị cho những người bị những căn bệnh nặng, ví dụ như bệnh ngộ độc thịt, viêm gan virut và bệnh dại, tạo ra một sự bảo vệ thường xuyên. Miễn dịch thụ động chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn bởi vì các kháng thể phân huỷ chậm ở trong dòng máu và cơ thể không có gì để thay thế được.

 

 

 

 

 

 

Hình 9. Các nhóm máu ABO

7. CÁC NHÓM MÁU VÀ SỰ TRUYỀN MÁU

Việc phân loại nhóm máu dựa trên sự có mặt của một số chất cố định ở trên màng hồng cầu. Các chất này có thể tác dụng như các kháng nguyên khi truyền máu từ người này sang người khác. Quan trọng nhất là các kháng nguyên ABO có bản chất glycolipit. Như mô tả trong hình 9, ở một người chỉ mang kháng nguyên A được gọi là nhóm máu A, những người có hồng cầu mang kháng nguyên B được gọi có nhóm máu B, trong khi đó những người có hồng cầu mang cả các kháng nguyên A và B là có nhóm máu AB. Nếu như hồng cầu không mang cả kháng nguyên A lẫn kháng nguyên B thì người đó có nhóm máu O. Trong mỗi trường hợp, huyết tương chứa những kháng thể chống lại các kháng nguyên nhóm máu không có trên hồng cầu. Ví dụ như nhóm máu A chứa các kháng thể kháng B, nhóm máu B chứa kháng thể kháng A. Nhóm máu AB không có kháng thể nào và nhóm máu O chứa cả hai kháng thể kháng A và kháng B. Có điều lạ là, việc sản sinh ra các kháng thể kháng A và kháng B được quyết định về mặt di truyền và không phụ thuộc vào sự xuất hiện của kháng nguyên. Lý do xuất hiện kháng thể cho đến nay chưa được rõ.

Nguyên tắc truyền máu được tóm tắt trong bảng 1. Nếu như truyền nhóm máu không phù hợp, ví dụ như nhóm máu B được truyền cho một người có nhóm máu A thì sẽ có một phản ứng ngay lập tức, trong đó các kháng thể trong máu người nhận tấn công hồng cầu của người cho. Điều này sẽ làm cho hồng cầu ngưng kết tức là chúng dính lại với nhau thành từng khối, làm tắc nghẽn các mạch máu, tổn thương thận, thậm chí có thể chết người. Phản ứng song song trong đó kháng thể của người cho máu tấn công hổng cầu của người nhận cũng xuất hiện, nhưng số lượng các phân tử kháng thể được truyền nhỏ tới mức tác dụng này có thể bỏ qua.

Trong thực tế máu thuộc những nhóm phù hợp với nhau thường được dùng để nguyên gọi là rhesus âm tính (Rh-). Ở Anh 85% dân số có Rh+. Sự xuất hiện máu Rh+ trong máu của người có Rh- sẽ tạo ra các kháng thể kháng Rh. Điều này có thể xuất hiện khi một bà mẹ có Rh-  mang thai có Rh+. Nếu các kháng nguyên Rh từ thai đi qua nhau thai thì cơ thể mẹ sẽ sản sinh ra các kháng thể có khả năng phá huỷ hồng cầu của thai. Những ảnh hưởng nghiêm trọng có thể xảy ra, nhất là khi có thai lần thứ hai hoặc hơn nữa đối với các kháng thể kháng Rh còn lại trong máu người mẹ. Thật may mắn là hồng cầu của thai nhi thường không qua được nhau thai, do đó các kháng thể của mẹ thường không được hình thành.

Bảng 1. Truyền máu và nhóm máu ABO

Nhóm máu của bệnh nhân

Các kháng thể có trong huyết tương của bệnh nhân

Các nhóm máu có thể dùng để truyền

A

B

AB

O

Kháng B

Kháng A

____

Kháng A, kháng B

A, O

B, O

A, B, AB, O

O

Việc cấy ghép cơ quan từ một người này sang một người khác khó thực hiện hơn truyền máu rất nhiều, bởi vì các cơ quan ghép như tim hay thận chứa nhiều kháng nguyên hơn cả huyết tương hay bề mặt hồng cầu, do đó chúng thường bị hệ thống miễn dịch của cơ thể đào thải. Trong phẫu thuật ghép các cơ quan, điều này một phần được khắc phục bằng việc chọn mô ghép một cách hết sức cẩn thận, đối chiếu các kháng nguyên của người cho và người nhận càng chính xác càng tốt và bằng việc sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch. Các kỹ thuật này có hiệu quả nhất đối với các trường hợp ghép thận. Phần trong suốt của mắt không có phản ứng miễn dịch, lý do tại sao sẽ được giải thích trong bài 24. Do đó ghép thuỷ tinh thể và giác mạc vẫn có thể thực hiện được ngay cả ở những người không phù hợp với nhau về mặt kháng nguyên.

 

VIDEO

BẢN ĐỒ VỊ TRÍ

WEBSITE LIÊN KẾT
THỐNG KÊ
0208671
Hôm qua 0448
Hôm nay 0250
Tuần này 2510
Tháng này 2510