Một Số Giải Pháp Có Tính Định Hướng Trong Việc Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn GDCD

A.- MỤC ĐÍCH CHUYÊN ĐỀ

 

      Hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang trở thành một xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội. Nó đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước, trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Kinh nghiệm các nước trên thế giới và thực tiễn công tác đổi mới ở nước ta trong thời gian qua cho thấy: muốn thực hiện thành công quá trình cải biến về chất nền sản xuất và đời sống xã hội, cần phải dựa vào một loạt các điều kiện nhất định, trước hết và chủ yếu là sự phát triển về chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn lao động nói riêng. Nhưng sự phát triển nguồn nhân lực là sự tích hợp của nhiều yếu tố, trong đó, giáo dục và đào tạo là cơ sở quan trọng nhất, chi phối tất cả các yếu tố khác. Do đó trong quá trình phát triển của mình, tất cả các nước, đặc biệt các nước đang phát triển đều nhấn mạnh và đặt chính sách giáo dục – đào tạo vào vị trí ưu tiên, hàng đầu. Nhận biết tầm quan trọng ấy, ở Việt Nam, Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu”.

     Cùng với xu thế phát triển của thời đại, công tác giáo dục ở nước ta luôn luôn được bổ sung, đổi mới cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh. Theo yêu cầu đó, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra nhiều chiến lược đổi mới: đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo.

     Mặc dù, nội dung, chương trình, sách giáo khoa và phương pháp đang từng bước được đổi mới nhưng việc giảng dạy các môn khoa học nói chung và môn giáo dục công dân nói riêng vẫn chưa thật sự có những chuyển biến tích cực và hiệu quả. Bởi trên thực tế vẫn xuất hiện đâu đó hai khuynh hướng trái ngược nhau. Khuynh hướng tuyệt đối hoá phương pháp dạy học truyền thống và khuynh hướng tuyệt đối hoá phương pháp dạy học tích cực. Khuynh hướng thứ nhất, học sinh không phát huy tính tích cực chủ động, khả năng tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ trong học tập, khuynh hướng thứ hai đôi khi làm cho học sinh dễ rơi vào trường hợp lĩnh hội kiến thức một cách rời rạc không theo một hệ thống nhất định. Để khắc phục hai khuynh hướng trên, cần đưa ra một số giải pháp có tính định hướng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt đối với bộ môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông.

    B.- TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

1.-  Tổ chức phân công thực hiện chuyên đề :

Giáo viên : Đào Thị Bé Ngọc

2.- Thời gian thực hiện chuyên đề :

Trong năm học 2015 - 2016

C. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

“ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG

TRONG VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC TÍCH CỰC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ QUÝ ĐÔN ”

1) Tổ chức thảo luận nhóm đạt yêu cầu

    Thông qua quá trình giảng dạy, bản thân đã nhận thấy trong giờ thảo luận, học sinh vẫn chưa tham gia tích cực và kết quả thảo luận đạt được chưa cao. Do đó, để giờ thảo luận đạt kết quả cao cần lưu ý những vấn đề sau:

       - Trước khi thảo luận, giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm của lớp học mà phân nhóm. Hai bàn vào một nhóm nếu giáo viên phân chia theo bàn. Phân chia theo số thứ tự, theo tên, giáo viên nên chọn mỗi nhóm từ 6 – 8 học sinh. Giáo viên không nên để các em tự lựa chọn vì cách làm này rất tốn thời gian. Mặc khác, khi các em tự lựa chọn thì giữa các nhóm không đều nhau. Giáo viên phải thường xuyên luân phiên các cách phân nhóm. Như thế mới tạo sự mới lạ và hợp tác đoàn kết giữa các thành viên trong giờ thảo luận.

     - Trong giờ thảo luận, giáo viên nên quy định rõ thời gian, đề nghị mỗi nhóm cử thư ký ghi lại kết quả đã thảo luận của nhóm và nộp lại cho giáo viên trước khi các nhóm lên trình bày.

    - Sau giờ thảo luận, giáo viên gọi bất kỳ một thành viên của nhóm lên trình bày theo lối thuyết trình, kết quả đạt được của một thành viên trong nhóm chính là kết quả chung của nhóm. Giáo viên không nên để mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày vì cách làm này sẽ tạo ra sự trông chờ, ỷ lại vào người khác.

     Sau giờ thảo luận, giáo viên nhận xét, kết luận, bổ sung và cho điểm từng nhóm. Giáo viên sẽ cộng điểm cho nhóm có kết quả đạt tốt, sáng tạo và có ý tưởng bổ sung. Giáo viên tuyên dương (thông qua điểm cộng) đồng thời có thể phê bình một cách khéo léo, tế nhị tuỳ theo mức độ tham gia thảo luận của các nhóm.

2) Kết hợp chặt chẽ phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy.

      Phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp có từ rất lâu đời, từng được các thế hệ giáo viên vận dụng và cải tiến trong nhiều năm nên có những ưu điểm và đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Với cách diễn đạt lưu loát, sáng rõ, dễ hiểu, phù hợp với lôgic nhận thức và sự tận tuỵ trong nghề nghiệp, phương pháp dạy học truyền thống đã chuyển tải đến người học mọi thông tin cần thiết, cô đọng mà người thầy đã dày công nghiền ngẫm, chắt lọc từ kho tàng hiểu biết phong phú của mình.

     Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, do sự phát triển khoa học công nghệ, phương pháp truyền thống bộc lộ một số nhược điểm nhất định: người học ở vào thế bị động, tiếp thu những gì mà thầy truyền đạt, tính tích cực và sáng tạo của người học không được phát huy. Đó là những nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Do đó, xuất hiện nhiều tư tưởng phê phán phương pháp truyền thống, cho rằng phương pháp truyền thống không còn phù hợp nữa cần phải đổi mới.

      Nhưng muốn nâng cao chất lượng phương pháp dạy học, chúng ta cần nghiên cứu lại hệ thống phương pháp truyền thống, bởi trước mắt chúng ta chưa có một hệ thống phương pháp dạy học nào phù hợp với yêu cầu phát triển của khoa học công nghệ. Hơn nữa, phương pháp dạy học truyền thống đã có từ lâu đời lại có ưu điểm và đóng góp cho sự nghiệp phát triển của giáo dục đất nước. Nếu chúng ta vứt bỏ hoàn toàn thì có nghĩa chúng ta không có điểm tựa. Có thể khẳng định rẳng, trong giảng dạy chúng ta không thể gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp truyền thống, ngược lại chúng ta phải kế thừa, phát triển những mặt tích cực của phương pháp ấy. Đồng thời không ngừng học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học cụ thể.

     Như vậy, trong dạy học không có phương pháp nào là phương pháp tốt nhất cho toàn bộ quá trình đào tạo. Tuỳ theo mục tiêu của môn học, bài học, hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp thích hợp và kết hợp các phương pháp đó. Một phương pháp sử dụng đúng chỗ, đúng lúc sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất trong giảng dạy.

3) Kiểm tra, đánh giá quán triệt mục tiêu giáo dục của môn học

     Kiểm tra, đánh giá trước hết là để đo lường kết quả giáo dục đã đạt được.           Ngoài ra, Kiểm tra, đánh giá còn có ý nghĩa:

   - Động viên tinh thần học tập của học sinh. Thông thường những học sinh nào học tốt, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra và thi thì phải cố gắng để ít nhất giữ vững được kết quả học tập. Học sinh nào chưa tốt, chưa đạt kết quả cao thì phải cố gắng hơn nữa để đạt thành tích cao hơn. Muốn vậy, việc kiểm tra, đánh giá phải chính xác, khách quan. Điều đó có nghĩa là phải chấm dứt tình trạng kiểm tra, đánh giá một cách tuỳ tiện, thiếu trách nhiệm đối với môn học.

   - Đảm bảo cho hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục của nó. Thực hiện yêu cầu này phải cải tiến một cách cơ bản việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc kiểm tra, đánh giá trước đây chủ yếu chỉ tập trung vào yêu cầu tái hiện tri thức môn học. Nhưng mục tiêu giáo dục không chỉ dừng lại ở việc tái hiện tri thức mà còn phải vận dụng tri thức đó vào trong thực tiễn cuộc sống.

  Do đó, hình thức trong kiểm tra và thi phải thay đổi theo hướng sau:

       + Thứ nhất: Cần sử dụng hình thức trắc nghiệm trong kiểm tra và thi để đảm bảo tính định lượng, tính toàn diện về kiến thức và tiết kiệm thời gian.

    Hiện nay có rất nhiều hình thức trắc nghiệm khách quan. Mỗi hình thức có ưu điểm, nhược điểm riêng và được vận dụng ở những mục đích kiểm tra khác nhau: trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn, trắc nghiệm đúng sai, trắc nghiệm ghép đôi, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm kết hợp nhiều phương án lựa chọn để giải thích, chứng minh cho mệnh đề.

    Mặc dù hình thức trắc nghiệm khách quan có ưu điểm như: chấm điểm nhanh, chính xác và khách quan; phản hồi nhanh về kết quả học tập của học sinh, tạo cơ hội cho học sinh tự đánh giá khi giáo viên công bố đáp án. Khi thiết kế nội dung một bài kiểm tra hay thi,các câu hỏi khách quan chỉ chiếm tối đa 40% tổng số điểm. Phần còn lại nên giành cho câu hỏi tự luận và bài tập tình huống nhằm phát triển khả năng viết, lập luận lôgic, trình bày thuyết phục một vấn đề của học sinh và kỹ năng giải quyết tình huống. Điều này góp phần phát triển tư duy bậc cao ở người học.

    + Thứ hai: Cần đổi mới nội dung câu hỏi tự luận

Như đã nói ở trên, việc kiểm tra, đánh giá trước đây chỉ tập trung vào yêu cầu tái hiện tri thức đã có ở bài học. Do đó, học sinh không phát triển tư duy, chỉ là cái máy sao chép. Vì vậy, nội dung câu hỏi cần phải đổi mới theo hướng phát triển tu duy phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng và liên hệ kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Có như thế, tự luận mới phát huy được thế mạnh của mình, khắc phục được những hạn chế của tự luận truyền thống.

     + Thứ ba: Sử dụng câu hỏi tình huống

Trong bài kiểm tra, thi nên sử dụng câu hỏi tình huống, bởi vì giải quyết tình huống góp phần phát triển tư duy học sinh với nhiều cách giải quyết khác nhau. Thông qua giải quyết tình huống trong học tập, các em khỏi bỡ ngỡ khi gặp phải tình huống ngoài thực tế.

     + Thứ tư: cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn học, phát huy tính tích cực trong quá trình lĩnh hội tri thức ở học sinh, việc kiểm tra, đánh giá có thể được tiến hành thường xuyên sau mỗi bài học, chương học. Giáo viên có thể thiết kế các bài tập trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá mức độ tư duy của học sinh. Với ưu thế nhanh, tiết kiệm thời gian, những phiếu bài tập này giúp giáo viên đánh giá khách quan bài giảng của mình một cách nhanh chóng, thuận tiện. Từ đó, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng day cho phù hợp.

   Từ những hướng cơ bản đó có thể thiết kế một bài kiểm tra, thi như sau:

I. Trắc nghiệm (3 điểm)

  A. Hãy khoanh tròn vào phương án đúng nhất cho mỗi câu sau đây:

1. Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất:

a. Lao động, tự liệu lao động, đối tượng lao động.

b. Sức lao động, tư liệu sản xuất, đối tượng lao động.

c. Sức lao động, tư liệu sản xuất, đối tượng lao động.

d. Sức lao động và lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động.

2. Phát triển kinh tế có ý nghĩa:

a. Tạo điều kiện giải quyết việc làm, giảm tệ nạn xã hội

b. Là tiền đề vật chất để phát triển văn hoá, giáo dục, y tế  

c.Tạo điều kiện vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững chế độ chính trị, tăng hiệu lực quản lí của nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

d.  Cả a, b, c đều đúng.

3. Thông qua các chức năng của tiền, chức năng nào biểu hiện dưới dạng tiền vàng.

a. Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán

b. Phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ.

c. Thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, tiền tệ thế giới.

d. Phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tiền tệ thế giới.

4. chức năng cơ bản của thị trường thể hiện ở những điểm nào?

a. Chức năng thực hiện (hay thừa nhận) giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.

b. Chức năng thông tin

c. Chức năng điều tiết, kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng

d. Cả a, b, c đều đúng

5: Trong cạnh tranh, mục đích của việc cạnh tranh được thể hiện ở những điểm nào sau đây?

a) Cạnh tranh các nguồn nguyên liệu

b) Cạnh tranh về khoa học công nghệ

c) Cạnh tranh thị trường tiêu thụ hàng hoá về chất lượng và giá cả hàng hoá

d) Cả a, b, c đều đúng

6: Hiện nay, nước ta có bao nhiêu thành phần kinh tế?

a) 4

b) 5

c) 6

d) 7

B) Lựa chọn đáp án đúng vế thứ nhất với vế thứ hai

Vế thứ nhất

Vế thứ hai

1. Lao động

A. Là những yếu tố của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con người.

2. Hàng hoá

B. Là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với cơ cấu kinh tế hợp lí, tiến bộ và công bằng xã hội.

3. Phân công lao động

C. Là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng.

4. Cạnh tranh

D. Là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá.

5. Phát triển kinh tế

E. Đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

6. Đối tượng lao động

F. là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh.

7. Tiền tệ

G. Là sự chuyên môn hoá lao động, chuyên môn hoá sản xuất giữa nội bộ các ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân.

8. Tư liệu lao động

H. Là một vật hay hệ thống các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người.

9. Cầu

I. Là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

10. Kinh tế tri thức

J. Là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong thời kỳ tương ứng với giá cả và thu nhập xác định.

 

II. Bài tập tình huống

   Chị Nguyễn Thị Huyền chuyên buôn bán quần áo thời trang. Cửa hàng của chị thu hút được nhiều khách hàng do chất lượng cao cùng với uy tín của chị. Anh Trần Văn Sĩ cũng có một cửa hàng thời trang nhưng ít thu hút khách hàng do chất lượng hàng hoá cũng như thái độ của nhân viên bán hàng kém hơn cửa hàng chị Huyền. Thấy vậy, anh Sĩ thuê người đến cửa hàng chị Huyền bỏ vào quần áo chất gây kích thích mạnh, khiến uy tín cửa hàng chị giảm dần. Theo sự điều tra và kết luận của công an, việc làm trên là do chính anh Sĩ  làm. Do đó buộc anh Sĩ phải xin lỗi, bồi thường thiệt hại và khôi phục uy tín cho cửa hàng chị Huyền. Qua tình huống trên, em có nhận xét gì về quá trình cạnh tranh, buôn bán của anh Sĩ và rút ra kết luận về quá trình cạnh tranh của nền kinh tế thị trường hiện nay?

III. Tự luận (4 điểm)

Câu 1: Vì sao hàng hoá có hai thuộc tính? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này?

Câu 2: Em hiểu như thế nào về chủ trương “ xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”?

     Như vậy, một đề kiểm tra, thi phải gồm đầy đủ các phần. Khi ra đề, giáo viên không nên ra một đề duy nhất mà ít nhất là 2 đề. Giáo viên có thể ra 4 đề càng tốt. Như thế mới đánh giá đúng năng lực thật sự của học sinh và góp phần đáp ứng yêu cầu mục tiêu của giáo dục.

4. Tăng cường phương pháp luyện tập cho học sinh

 a. Yêu cầu chung về tổ chức luyện tập học sinh:

   Theo chương trình mới, phần lớn các bài học môn giáo dục công dân có bài tập thực hành kèm theo. Bài tập có các nhiệm vụ sau:

- Giúp học sinh nhận thức sâu sắc nội dung bài học

- Luyện tập cho học sinh biết vận dụng tri thức môn học vào đời sống

- Tập cho học sinh hoạt động thực tế.

   Hiện nay, hình thức dạy học môn này còn mới, giáo viên chưa có kinh nghiệm và học sinh cũng chưa quen. Do đó, cần quan tâm đến việc tổ chức các tiết luyện tập để phát huy tác dụng giáo dục của nó. Luyện tập cho học sinh là hình thức dạy học cần thiết nhưng phải có mức độ phù hợp khi vận dụng vào trường phổ thông. Vì vậy, vấn đề cho học sinh luyện tập phải là vấn đề thuộc chương trình học, những vấn đề chung quanh cuộc sống của học sinh, không nên cho học sinh luyện tập những vấn đề lý luận và thực tiễn đang có tranh luận và chưa rõ phương hướng giải quyết. Tiết luyện tập của học sinh được tổ chức đơn giản. Giáo viên thông báo các câu hỏi, các nhiệm vụ phải thực hiện để học sinh chuẩn bị trước ở nhà. Tại giờ luyện tập, giáo viên lần lượt chỉ định học sinh trình bày những nội dung đã chuẩn bị. Khi học sinh trình bày xong, các học sinh khác tham gia ý kiến, vấn đề có ý kiến khác nhau, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo luận, tranh luận. Sau mỗi vấn đề, giáo viên nêu ý kiến tổng kết, nêu rõ ý kiến đúng và không đúng mà học sinh đã phát biểu. Cuối tiết luyện tập, giáo viên nên nhận xét tinh thần học tập của học sinh, khen các em làm việc tích cực.

     Để tiết luyện tập học sinh đạt kết quả cao, giáo viên phải hướng dẫn thế nào để học sinh phát biểu một cách tự do, tránh tình trạng đơn điệu là giáo viên đặt câu hỏi và học sinh trả lời. Chú ý hướng dẫn để học sinh có thể tự đặt câu hỏi để cùng nhau thảo luận. Việc này rất quan trọng bởi vì nếu học sinh có thể tự đặt câu hỏi sẽ giúp học sinh nắm được bài tốt hơn, kích thích học sinh tư duy tích cực, sáng tạo hơn. Muốn làm được điều đó, giáo viên có thể nêu ra cho các em câu hỏi: vấn đề này các em có thể tự đặt ra câu hỏi gì? Câu hỏi này rất quan trọng, giáo viên nên quan tâm vận dụng một cách linh hoạt.

    Việc chuẩn bị cho tiết luyện tập, học sinh phải và đã thực hiện trước ở nhà. Ở lớp, mở đầu tiết luyện tập, giáo viên nên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh. Khi các em trình bày nội dung đã chuẩn bị, giáo viên theo dõi cẩn thận và có thể cho điểm. Làm như thế sẽ động viên học sinh chuẩn bị bài tốt hơn cho mỗi tiết luyện tập.

   Chú ý khi học sinh phát biểu ý kiến, giáo viên cần viện dẫn nội dung sách giáo khoa để học sinh nắm chắc sách giáo khoa và để chuẩn xác các ý kiến phát biểu.

  b. Luyện tập nâng cao nhận thức nội dung môn học

    Ý nghĩa của giáo dục luyện tập được đề cập ở đây chính là cho học sinh tiếp thu một cách sâu sắc. Môn này có đặc điểm vừa gợi ý hướng dẫn học bài, vừa có nhiệm vụ luyện tập và cả hai loại đều có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững nội dung môn học, đó cũng chính là điểm giống nhau. Tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau, có thể thấy như sau:

   Câu hỏi hướng dẫn bài học chỉ đề cập đến vấn đề nắm vững nội dung bài học nhưng không đề cập đến yêu cầu nhận thức sâu nội dung môn học giáo dục công dân.

   Khác với yêu cầu hướng dẫn học bài, yêu cầu luyện tập nhận thức nội dung môn học giúp cho học sinh đi sâu vào một số trọng điểm giúp choc các em thấu hiểu được bản chất của vấn đề và tổ chức các hoạt động. Một thí dụ có thể nói lên các mức độ khác nhau của yêu cầu hướng dẫn học bài và yêu cầu luyện tập. Bài “Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học”, có 4 đơn vị kiến thức. Tuy nhiên, ta chỉ xét đơn vị kiến thức thứ nhất, tức vấn đề về Nghĩa vụ “Nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội”. Gợi ý hướng dẫn bài học đối với đơn vị kiến thức này có thể có nhiều chứ không phải một, chẳng hạn: nghĩa vụ là gì? Là học sinh em thấy mình có nghĩa vụ nào? Nhưng nhiệm vụ luyện tập về nhận thức trong điểm này được phát biểu như sau: “ Giải thích quan điểm cho rằng, nghĩa vụ bao hàm nghĩa vụ của sự hi sinh”. Như vậy thông qua ví dụ có thể thấy rằng, cả gợi ý hướng dẫn bài học và nhiệm vụ luyện tập đều yêu cầu học sinh nắm vững nội dung bài học nhưng theo mức độ khác nhau. Gợi ý hướng dẫn học bài chỉ yêu cầu học sinh nắm vững quan điểm “nghĩa vụ”, chưa có yêu cầu đi sâu. Nhiệm vụ luyện tập yêu cầu học sinh phải nhận thức quan niệm “nghĩa vụ” một cách sâu sắc, phải hiểu luận điểm: “khi cần thiết biết tự nguyện đặt nhu cầu và lợi ích của mình phục tùng lợi ích của người khác, của xã hội” chính là sự hi sinh. Nếu hiểu như vậy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập.

     Luyện tập bao giờ cũng có yêu cầu nhận thức sâu, nếu đó là luyện tập nắm vững nội dung bài học. Nhưng không thể nhận thức sâu toàn bộ nội dung bài học mà chỉ chú ý các trọng điểm.

    c. Giáo viên phải tập cho học sinh biết vận dụng nội dung bài học vào thực tiễn cuộc sống

     Mục đích của việc dạy học là giúp học sinh vận dụng tri thức môn học vào đời sống. Bác Hồ của chúng ta thường nhấn mạnh “ lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Thực tiễn mà không được lý luận chỉ đạo là thực tiễn mù quáng”. Đúng vậy, nếu có lý luận mà không vận dụng được thì đó chỉ là lý luận suông. Đặc biệt, môn học này dạy cho chúng ta những tri thức có liên quan đến cuộc sống hằng ngày. Nếu chúng ta chỉ học cho biết, học không vận dụng thì việc học của chúng ta không có ý nghĩa gì. Điều đó có thể thấy thông qua ví dụ đơn giản sau đây: vẫn là bài “ Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học”, đơn vị kiến thức thứ hai có tiêu đề: “ Lương tâm ”. Một học sinh sau khi học vấn đề này, học sinh đã biết thế nào là lương tâm, biểu hiện của lương tâm và làm thế nào để trở thành người có lương tâm. Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, học sinh đó thường hay lừa dối người khác, trộm cắp, đánh người yếu thế hơn mình,... Những hiện tượng như vậy đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên quan sát, nhắc nhở các em khi các em sai phạm, thông qua kiến thức bài học phải tập cho các em vận dụng những gì đã học vào thực tiễn.

    Luyện tập vận dụng tri thức thường được thực hiện theo hai cách: dựa vào lý luận đã học để giải thích hiện tượng trong cuộc sống, ngược lại dựa vào hiện tượng đời sống thực tế để rút ra kết luận như nội dung bài học.

     Dựa vào lý luận đã học để giải thích hiện tượng trong đời sống thực tế. Để có thể cho học sinh luyện tập theo hướng này, giáo viên phải trải qua một số thao tác tuần tự. Trước hết, giáo viên phải dựa vào một quan điểm lý luận quan trọng thuộc nội dung bài học, sau đó tìm sự thể hiện của nó trong đời sống thực tế, tiếp theo nêu hiện tượng thực tế này và yêu cầu học sinh dựa vào bài học có quan điểm lý luận đã chọn để giải thích nó. Chẳng hạn bài “Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình”, đơn vị kiến thức thứ hai có nội dung: “ hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Giáo viên sau khi chọn nội dung, tìm thấy biểu hiện của nó: trong thực tế có nhiều trường hợp, một chồng có đến 2 – 3 người vợ. Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn, giáo viên đưa ra bài tập như sau: “ Ông Sáu hiện ở Long An, ngoài người vợ lớn, ông cưới thêm vợ bé. Cả hai người vợ đều yêu thương ông và họ sống với nhau rất vui vẻ”. Vậy theo các em, tình trạng của ông Sáu có được công nhận về mặt pháp lý không? Để hoàn thành bài tập này, học sinh phải dựa vào quy định của pháp luật và nội dung đã viện dẫn ở trên.

    Yêu cầu có tính nguyên tắc, khi giáo viên cho học sinh bài tập này, giáo viên phải có tính định hướng rõ ràng về nội dung cơ bản, giúp học sinh nhận thức sâu sắc.

    Ngược với hiện tượng trên, từ hiện tượng đời sống thực tế rút ra kết luận phù hợp với bài học. Để có thể ra loại bài tập này, giáo viên cũng phải trải qua những thao tác như khi ra loại bài tập dựa vào lý luận đã học để giải thích hiện tượng đời sống thực tế. Thí dụ, bài “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. Trong phần trách nhiệm xây dựng Tổ Quốc, giáo viên lấy một trong những nhiệm vụ của học sinh để cho bài tập, phần đó có nội dung: “Thanh niên tích cực tham gia góp phần xây dựng quê hương bằng những việc làm thiết thực, phù hợp bởi khả năng, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo, chống tiêu cực, tham nhũng,...”. Tìm những biểu hiện này trong thực tế, thấy có tình trạng một số học sinh sau khi ra trường đăng ký nhập ngũ, từ đó giáo viên cho học sinh bài tập. “Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, Thanh đã đặng ký nghĩa vụ quân sự. Cùng với Thanh là một học sinh cùng trang lứa, cũng tự nguyện xin vào nhập ngũ. Với nguyện vọng của họ là góp phần xây dựng quê hương đất nước, bảo vệ trật tự trị an”. Hiện tượng này đã nói lên điều gì? Sau khi học sinh giải quyết được bài tập thì giáo viên tổng kết lại và khẳng định cho học sinh biết rằng, ngoài nội dung này, thanh niên, học sinh còn rất nhiều nhiệm vụ khác, giáo viên kể ra. Cứ thế, các tiết khác giáo viên có thể sử dụng việc luyện tập này để phát huy tính tích cực và khả năng lập luận, vốn hiểu biết của học sinh.

d. Tăng cường bài tập hoạt động thực tiễn

   Loại bài tập này có ý nghĩa giáo dục rất lớn, nó giúp cho học sinh tiếp cận đời sống xã hội một cách chủ động, tích cực, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

     Nói là bài tập hoạt động thực tiễn nhưng nội dung của bài tập cũng gắn liền và phù hợp vói nội dung các bài học môn giáo dục công dân. Chẳng hạn, giáo viên có thể cho học sinh bài tập như: “ Để giải quyết một số vấn đề cấp thiết của nhân loại là học sinh em phải làm gì?” khi học một số vấn đề cấp thiết của nhân loại.

      Những ý kiến của học sinh có ý nghĩa hình thành bài tập chứ chưa thể có ý nghĩa cải tạo thực tiễn vì như đã nói ở trên, ý kiến học sinh chỉ là ý kiến phục vụ mục đích giáo dục. Mặc dù vậy, loại bài tập này có ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành cho học sinh ý thức trách nhiệm công dân.

    Bài tập thực tiễn này có thể áp dụng trong tiết luyện tập của môn học. Tuy ý kiến của học sinh chưa có tác dụng đối với thực tiễn đời sống nhưng mọi ý kiến của học sinh đều được đem ra báo cáo trước lớp để thảo luận tập thể.

   Để có thể ra loại bài tập này, giáo viên phải nắm vững nội dung bài học, nắm vững trình độ học sinh và điều kiện hoàn thành bài tập của học sinh. Giáo viên phải căn cứ vào trình độ của học sinh mà ra bài tập cho phù hợp. Nếu không nắm bắt vấn đề đó, giáo viên ra bài tập quá khó, học sinh không làm được thì loại bài tập này không phát huy được tác dụng của nó.    

 

KẾT LUẬN

 

       Phương pháp dạy học là quá trình truyền thụ và tiếp thu kiến thức của giáo viên và học sinh. Nó bao gồm cả phương pháp dạy học truyền thống lẫn phương pháp dạy học tích cực. Tuỳ theo nội dung bài học, mỗi phương pháp dạy học đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng, Do đó, giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp với nhau để tạo nên sự hoài hoà trong giảng dạy, đây không chỉ đơn thuần là một kỹ năng sư phạm, kỹ năng dạy học mà còn là một nghệ thuật sư phạm. Tuy nhiên, muốn đảm bảo chất lượng, hiệu quả dạy học, phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì phương pháp dạy học tích cực giữ vai trò quan trọng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIDEO

BẢN ĐỒ VỊ TRÍ

WEBSITE LIÊN KẾT
THỐNG KÊ
0060095
Hôm qua 0237
Hôm nay 0185
Tuần này 1859
Tháng này 5968